Lừa đảo hay gian lận thương mại?

Lừa đảo hay gian lận thương mại?

2050

Gần đây một nhóm người với “mác” tình nguyện viên làm công việc từ thiện – điện phân miễn phí các mẫu nước: nước khoáng, nước tinh khiết của các hộ dân, doanh nghiệp đang sử dụng để phát hiện các tính chất độc hại, hay độ tinh khiết trong nước.

images

Bài diễn thuyết của các “tình nguyện viên” bắt đầu bằng việc giới thiệu về công ty, công nghệ, sự nguy hại về sức khỏe trực tiếp và gián tiếp đến các hộ dân, chủ doanh nghiệp khi sử dụng, sản xuất nước không an toàn.

Cao trào được đẩy lên bằng việc thực hiện xét nghiệm một mẫu nước bất kì mà hộ dân hay doanh nghiệp đang sử dụng để kiểm tra độ sạch (chủ nhà đem một ly nước trong vắt, nếu là nước khoáng thì càng đúng kịch bản. Họ sẽ rót nước uống tinh khiết siêu sạch đã mang sẵn theo vào một ly nước khác, đặt máy điện phân vào 2 ly cùng một lúc và bật điện).

Kết quả chỉ sau vài giây, phần nước của chủ nhà đổi sang màu da cam và sau đó chuyển tiếp sang màu nâu. Trong khi phần nước của họ vẫn không thay đổi màu sắc, tức là “nước sạch”

Kết luận mà nhóm người này đưa ra đã gây hoang mang dư luận xung quanh thông tin nước khoáng, nước tinh khiết bị nổi đục, kết tủa, có cặn, nước sinh hoạt có hàng loạt vấn đề.

Chủ hộ, chủ doanh nghiệp không tin,tự mình làm thí nghiệm. Lần này đổi cực cho cả 2 ly nước và kết quả vẫn là ly nước đổi màu da cam, rồi nâu dần trong khi nước của tình nguyện viên vẫn trong veo.

Sau khi được kiểm chứng về mức độ nguy hại của nguồn nước đang sử dụng thì hàng loạt các nhóm đưa các thiết bị đến để tiếp thị và bán máy lọc nước.

Vậy kết quả kiểm định chính xác tới đâu, các thiết bị lọc nước được giới thiệu sẽ khắc phục vấn đề này triệt để như thế nào? hay thực chất đây chỉ là một trò gian lận thương mại để đẩy mạnh thị trường tiêu thụ máy lọc nước?

Trước tiên ta đối chiếu tính pháp lý của kết quả lọc nước từ của tình nguyên viên. Theo Cục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm : “Chỉ có các phương pháp thử và kết luận về VSATTP của các phòng xét nghiệm được công nhận hoặc có thẩm quyền do Bộ Y Tế chỉ định hay trưng cầu ý kiến mới có giá trị về mặt pháp lý. Các thiết bị xét nghiệm nhanh về an toàn vệ sinh thực phẩm khi lưu hành phải được Bộ Y Tế cấp giấy phép.

Về tính năng kỹ thuật, tính hợp pháp về nguồn gốc xuất xứ của các dụng cụ, trang thiết bị để thử nghiệm đánh giá chất lượng sản phẩm nước phải được cơ quan điều tra, thanh tra có thẩm quyền xem xét theo quy định của pháp luật.

Ông Nguyễn Văn Khải – GĐ Trung tâm tư vấn đèn tiết kiệm Việt Nam và dung dịch hoạt hoá điện hoá: “Máy thử nước điện phân và bút thử TDS (tổng lượng chất rắn hoà tan) chưa đủ căn cứ để kết luận. Thiết bị thử chưa được kiểm định. Với tư cách là nhà khoa học, tôi khẳng định đây là trò lừa đảo. Nếu như muốn dòng nước chảy khi xét nghiệm có hàm lượng mangan, sắt cao chỉ cần cho một cục sắt, mangan nhỏ bám vào cục dương của máy điện phân là nguồn nước chảy ra có hàm lượng sắt, mangan cao ngay”.

CĂN CỨ TRÊN GÓC ĐỘ KHOA HỌC

Phân tử nước có công thức là H2O. Phân tử nước ở trạng thái lỏng phân cực, một đầu tích điện âm, đầu kia tích điện dương. Trong một ly nước bình thường, có một tỷ lệ rất nhỏ (khoảng vài phần tỷ) phân tử nước phân ly thành hai loại ion mang điện trái dấu, tạo thành một cân bằng động:

H2O =  H+ + OH-

Tích số nồng độ (nồng độ tính ra mol/l) của ion H+ và của ion OH-, là một hằng số, gọi là tích số ion của nước (Tn); ở 25oC, tích số này bằng 10-14:

Tn = [H+].[OH-] = 10-14.

Nước trung tính:  là nước có âm logarit cơ số 10 của nồng độ ion H+ gọi là pH = -Lg[H+]. Nếu không có tác động nào khác vào cân bằng phân ly của nước (cân bằng công thức thì nồng độ H+ luôn bằng nồng độ OH-, và bằng 10-7 mol/l, khi đó pH = 7
Nước trong tự nhiên (nước ngầm, nước sông, nước biển,…) hoà tan nhiều chất khoáng: NaCl, CaCl2, CaSO4, MgCl2 , MgSO4, Na2CO3, NaHCO3 … Nước tự nhiên thực tế là một dung dịch. Các chất khoáng này phân ly thành các ion, chẳng hạn:

NaCl -> Na+ + Cl-
NaHCO3 -> Na+ + HCO3-

Khi nhúng một cặp điện cực vào ly nước có chứa ion, thì các ion dương (cation) chuyển dịch đến cực âm (Catôt), các ion âm (anion) chuyển dịch đến cưc dương (Anôt), tạo nên dòng điện. Một cách nôm na, dòng điện trong dung dịch là dòng của các ion. Nước tinh khiết có độ phân ly thấp, nồng độ cation H+ và anion OH- rất nhỏ, nên tính dẫn điện kém. Nước cất một lần (vẫn còn một lượng nhỏ chất khoáng và một ít khí hoà tan trong đó có CO2) có độ dẫn điện riêng (sau đây gọi tắt là độ dẫn) không lớn hơn 0,5 mS/m (miliSiemens/met). Nước siêu tinh khiết dùng trong công nghệ chế tạo vật liệu bán dẫn, được sản xuất bằng các phương pháp đặc biệt, có độ dẫn nhỏ hơn 0,01 mS/m. Nước tự nhiên do chứa nhiều chất khoáng nên độ dẫn có thể tăng lên đến vài chục, vài trăm mS/m hoặc hơn, tuỳ thuộc vào nồng độ các chất khoáng đã hoà tan.

NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA MÁY ĐIỆN PHÂN “XÉT NGHIỆM NƯỚC”

Theo nguyên lý hai Catôt bằng nhôm, hai Anôt bằng sắt. Một Catôt và một Anôt tạo thành 1 cặp điện cực. Lúc còn mới, các thỏi kim loại đều có màu trắng. Dùng điện lưới (220V xoay chiều) thì điện thế một chiều giữa Anôt và Catôt là 200V. Khi điện phân nước, mỗi cặp điện cực nhúng vào một ly.

cqv1428790051

 

Hiện tượng xảy ra khi điện phân nước

Tại thỏi nhôm Catôt (âm): Cation H+ từ dung dịch khuếch tán tới bề mặt thỏi nhôm, nhận điện tử thành hydrô:

2H+ + 2e -> H2­

Lúc này trên bề mặt thỏi nhôm có khí sủi lên, có thể hứng vào ống nghiệm, đốt thì cháy, đó chính là khí H2­.

Tại thỏi sắt, đang giữ vai trò là Anôt (dương): Nguyên tử sắt ở lợp bề mặt mất điện tử trở thành cation Fe3+ , khuếch tán vào dung dịch, hiện tượng này được gọi là hoà tan anôt:

Fe – 3e -> Fe3+

Trong dung dịch nước có pH gần trung tính, Fe3+ tương tác với phân tử nước tạo thành hydroxyt sắt(III), quá trình này gọi là thuỷ phân:

Fe3+ + 3H2O = Fe(OH)3 + 3H+

Hydroxyt săt(III) là một chất rất ít tan, vừa hình thành liền bị các phân tử nước (vốn đã phân cực) vây xung quanh tạo thành một vành đai khá vững, vì vậy công thức của nó nhiều khi được ghi là Fe(OH)3.nH2O. Trong ly nước của bạn, hợp chất này tồn tại ở dạng huyền phù, có màu da cam, nếu nồng độ đủ lớn có thể chuyển sang màu nâu, đó chính là màu mà bạn đã nhìn thấy.

Do thế điện phân lên đến 200V nên tại Anôt xảy ra nhiều phản ứng phụ, trong đó có một phản ứng quan trọng như sau: Anion OH- từ dung dịch khuếch tán tới bề mặt Anôt (Sắt), bị Anôt thu mất điện tử thành oxy:

4OH- – 4e -> O2 + H2O

Một phần oxy vừa sinh ra phản ứng với lớp sắt bề mặt tạo thành oxyt săt(III) bám chắt trên bề mặt thỏi sắt, làm cho thỏi sắt có mầu nâu đen như bạn trong hình. Một phần oxy khác khuếch tán vào dung dịch bám vào huyền phù hydroxyt sắt(III) làm cho tỷ trọng của nó nhỏ hơn nước nên từ từ nổi lên. Đó là lý do làm cho mầu trong ly nước của bạn lớp trên đậm hơn lớp dưới.

Vậy lí do nước của tình nguyện viên không đổi màu trong cả 02 trường hợp?

Bởi độ dẫn của nó thấp, ngoài ra độ dẫn đóng vai trò quyết định trong việc phán xét bằng máy điện phân.

Kết quả đo độ dẫn tại phòng thí nghiệm một số mẫu nước (lấy ngẫu nhiên)

Mẫu nước Nước cất một lần Nước uống tinh khiết Nước máy thành phố Nước giếng khoan (sau lọc) Nước mưa
Độ dẫn điện riêng, mS/m 0,3 0,4 30,2 27,4 10,4

Năm mẫu nước trên đều trong suốt, nồng độ sắt đều < 0,1 mg/l.

Nếu điện phân bằng máy nói trên trong 5 giây thì nước cất và nước uống tinh khiết vẫn không đổi màu, nước máy thành phố, nước giếng khoan (sau lọc) chuyển thành da cam đậm, nước mưa màu nhạt hơn. Nếu cho vài hạt muối ăn (NaCl) tinh khiết vào ly chứa nước cất và ly chứa nước uống tinh khiết (để tăng độ dẫn) thì lập tức nó cũng chuyển sang màu da cam.

Cứ điện phân mẫu nước cất và nước uống tinh khiết lâu hơn, ví dụ 1 phút, thì chúng cũng sẽ chuyển sang mầu da cam. Như vậy, việc tăng độ dẫn (do sự có mặt của muối khoáng hoà tan) đã tăng tốc quá trình hoà tan Anôt (bằng sắt).

Đến đây các bạn có thể tự đánh giá được quá trình và mục đích làm việc của các “tình nguyện viên” và hãy đến các cơ quan kiểm định có năng lực khi có nhu cầu tư vấn, xét nghiệm các mẫu nước.

Lừa đảo hay gian lận thương mại?